Tủ Sách Chứng Khoán

Từ lóng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Từ điển tiếng lóng về thị trường chứng khoán Việt Nam

Bò tùng xẻo: 
Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng. Bò tùng xẻo chỉ tình trạng thị trường giảm giá nhưng không xuống mạnh mà mỗi ngày xuống một ít làm tài khoản nhà đầu tư thua lỗ từ từ, mất vốn lúc nào không biết. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, do ảnh hưởng của các mã chứng khoán có vốn hóa lớn (Large Cap) nên có thể chỉ số thị trường không giảm mạnh nhưng giá các cổ phiếu riêng lẻ lại giảm sâu. 
Điều này khiến nhiều nhà đầu tư chỉ nhìn vào một mình chỉ số thì có thể sẽ không đánh giá hết được rủi ro đối với danh mục đầu tư của mình. 

Tuột quần: nghĩa là thị trường, chứng khoán nào đấy đi xuống 

Cởi trần: nghĩa là thị trường, chứng khoán nào đấy đi lên, chạm trần (nghĩa là tăng tối đa trong biên độ cho phép) 

Kẹp trym: có nghĩa là người đầu cơ giá lên nhưng bị tình trạng "tuột quần" nên "chi.m" bị kẹp, cho nên từ này còn ám chỉ việc chi.m rút không kịp nên bị kẹp chim!

Cụt trym: (viết đúng là cụt chim): bị thua lỗ trong đầu tư chứng khoán do rút vốn không kịp.

Lên đọt:trót đua trần CP giá quá cao

Cưa chân bàn: bình quân giá xuống

Lùa gà, dụ gà: Chứng khoán VN bây giờ lắm cạm bẫy, và ngày càng tinh vi để dụ những NĐT thiếu kinh nghiệm.

Xài Đòn gánh: sử dụng margin

Tát ao :Washout: Là một ngày cộng hưởng mà nhiều nhà đầu tư, đầu cơ đồng loạt thoát khỏi thị trường. Thực ra ở những thị trường không có biên độ thì phiên wash out mới giúp xác định khoảng đáy, còn thị trường Việt Nam có biên độ nên không thể totally washout trong 1 phiên được được mà cần nhiều phiên

Hàng nóng: là cách mà dân chơi chứng khoán dành chỉ những cổ phiếu tốt (blue-chip), luôn được giới đầu tư săn tìm như Ngân hàng, dầu khí, viễn thông… Hàng nóng là hàng có đội lái, nó sẽ chỉ tăng mạnh khi đội lái gom đủ hàng

Khoai tây: nhà đầu tư nước ngoài, xuất phát từ cách làm âm thầm như củ khoai và vì nó là Tây nên gọi là khoai tây. 

Chim lợn: có nghĩa chim cú mèo, người ta tin rằng loại chim này rất xui xẻo, báo hiệu sẽ có cái chết... thuật ngữ này ám chỉ những kẻ chuyên kêu réo thị trường đi xuống, thị trường sẽ chết để mua vào với giá rẻ. “Còn ham hố thì còn đi bằng nạng gỗ” là slogan.

Bìm bịp: ám chỉ những người đang ôm 1 bụng cổ, lúc nào cũng oang oang TT đang rất tốt để bán cổ mình đang nắm giữ. “Bán là thua, mua là thắng” là slogan

Bơm vá: nghĩa là thổi phồng một loại cổ phiếu nào đó để nhằm bán ra kiếm lợi. Việc bơm vá còn ám chỉ ai đó PR một cổ phiếu nào đấy quá mức (bơm lên) mà lờ qua các thông tin bất lợi (vá chổ thủng). 

Lướt sóng: dựa vào tình hình thị trường lên cao xuống thấp trong một thời gian ngắn giống như những con sóng để mua vào, bán ra kiếm lời. 

Lờ đờ: nghĩa là ám chỉ các nhà lãnh đạo, xuất phát từ việc viết tắt chữ lãnh đạo là "lđ". 

Con bò: ám chỉ những nhà đầu cơ giá lên, từ này xuất phát từ tiếng Anh (Bull: con bò) sau đó du nhập vào Việt Nam. Loài bò là loại chỉ khoái hùng hục xông lên phía trên... nên nó được dùng làm hình tượng ám chỉ nhà đầu cơ giá lên. 

Con gấu: ám chỉ những nhà đầu cơ giá xuống, từ này cũng xuất phát từ tiếng Anh (Bear: con gấu) sau đó du nhập vào Việt Nam. Loài gấu có thói quen leo lên trên cây cao, ăn mật ong rồi sau khi say mật thì... buông tay ra để rơi xuống đất. Tuy nhiên nhờ ******* tan ra nên một lúc sau thì gấu tỉnh lại (nên ******* rất quý). 

Con sói- Cá mập, Tay to: Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng. Cá mập hay Tay to dùng để chỉ giới đầu tư có nguồn lực vốn lớn, nhà đầu tư tổ chức có ảnh hưởng đến giao dịch trên thị trường. 
Con sói: ám chỉ những nhà đầu tư không ngoan, ranh ma quỷ quyệt như loài sói 

Con cừu- Cá cơm: Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng. Cá cơm ám chỉ tầng lớp nhà đầu tư nhỏ lẻ, có tiềm lực vốn mỏng, khả năng tiếp cận thông tin không nhanh bằng và thường thua thiệt trước các nhà đầu tư VIP, nhà đầu tư “cá mập”, các nhà đầu tư tổ chức như công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán, công ty tài chính... 
Con cừu: ám chỉ những nhà đầu tư thiếu hiểu biết, khờ khạo như loài cừu

Cổ cánh: cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán nói chung. Từ này xuất phát từ chữ "cổ" trong cổ phiếu. 

Máng lợn: nghĩa là nhà đầu tư bị sạch túi, chỉ còn cái máng lợn giống như truyện ông lão đánh cá và con cá vàng, cuối cùng ông lão cũng chỉ còn cái máng lợn. 

Hasino: Đây là sự kết hợp giữa từ Hastc và Casino, nghĩa là sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội giống như là nơi đánh bạc tập trung 

Hosino: Đây là sự kết hợp giữa từ Hose và Casino, nghĩa là sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh giống như là nơi đánh bạc tập trung 

Củ sả: nghĩa là xả hàng ra với khối lượng lớn hơn khối lượng mua...
Đội lái: 1 nhóm tay to kết hợp để đánh lên hay xuống 1 cổ phiếu nào đó.
Bulltrap: nghĩa là cái bẫy bò, ý muốn nói là những nhà đầu cơ giá lên sẽ bị mắc bẫy.

Beartrap: nghĩa là bẫy gấu, ý muốn nói là những nhà đầu cơ giá xuống sẽ bị mắc bẫy.

Uptrend: nghĩa là thị trường tăng điểm một cách bình thường

Downtrend: thị trường giảm điểm một cách bình thường

Đảo hàng: là hoạt động mua bán chứng khoán để tái cơ cấu lại danh mục đầu tư. Đây có thể là hoạt động bán ra các chứng khoán xấu để mua vào chứng khoán tốt, cắt lỗ chứng khoán giảm sâu để mua lại với giá thấp hơn… 

Line (lai) - Giá chứng khoán: Đây là từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng.
Line (lai) dùng để chỉ mức tăng/giảm giá của chứng khoán, thường là 100 đồng. Ví dụ: Cổ phiếu ABC hôm nay chỉ tăng có 2 line à (200 đồng).

Múc – Xúc: Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng.
Dùng để chỉ mua vào với quyết tâm cao độ, mua bằng mọi giá. Ngược lại với Xả/Thoát hàng bằng mọi giá.
Ví dụ: Cổ phiếu tăng trần hàng loạt, vào múc thôi anh em ơi.

Tỏi - Giá trị giao dịch: Đây là một từ lóng, từ dân dã được giới đầu tư chứng khoán sử dụng. Tỏi tức là tỷ đồng, dùng để nói về giá trị giao dịch của cổ phiếu hay toàn thị trường tính theo đơn vị là tỷ đồng. 
Ví dụ: Đã hơn 10 giờ mà giao dịch hai sàn chỉ mới có 150 tỏi. Ảm đạm quá!